12 thg 11, 2019

Hai ngôi tháp cổ ở chùa Quốc Ân Kim Cang

Phật tử, du khách ngày nay có thể đến viếng thăm ngôi Tổ đình Quốc Ân Kim Cang - một ngôi chùa đã từng được khai sơn hơn 300 năm trước - tại huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Tuy nhiên đó là ngôi chùa mới được xây dựng lại cách đây 10 năm trên nền chùa cũ, vốn đã bị phá hủy hoàn toàn từ năm 1946. Di tích quan trọng nhất ở đây chính là ngôi tháp mộ của Tổ sư Nguyên Thiều, vị Tổ truyền phái Lâm Tế vào Miền Trung Việt Nam đầu tiên, và đã đóng góp nhiều công đức trong việc phục hưng và phát triển Phật giáo ở Đàng Trong.


Tháp mộ Tổ sư Nguyên Thiều

Xưa kia ngôi chùa này gọi là Chùa Kim Cang hay Chùa Tháp ở Đồng Nai, tọa lạc tại ấp Bình Thảo, xã Bình Phước, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên. Ngày nay chùa thuộc ấp Bình Lục, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Theo lời kể của trụ trì chùa Cửu Thiên – Thủ Đức (là đệ tử của vị trụ trì Tổ đình Quốc Ân Kim Cang thời điểm 1946) và các bô lão ở địa phương ấp Bình Thảo kể lại thì người dân nơi đây vẫn thường gọi đây là “Chùa Tháp” vì chùa này có ngôi tháp cổ của vị Tổ Sư khai sơn Tổ đình Quốc Ân Kim Cang.

Chính nhờ ngôi tháp này mà sau nhiều năm quên lãng, người ta mới xác định lại được vị trí ngôi Tổ đình. Hiện nay chùa xưa chỉ còn lưu dấu nền Tổ đình và hai tháp cổ. Thông tin về 2 ngôi tháp cổ như sau (ghi lại theo bài viết của Pháp Tuệ, trên báo Giác Ngộ online ngày 14/11/2008):

11 thg 11, 2019

Chuyện về ngôi Tổ đình Quốc Ân Kim Cang

Thiền sư Nguyên Thiều (1648-1728) là một thiền sư người Trung Quốc, thuộc phái Lâm Tế đời thứ 33, sang Việt Nam truyền đạo vào nửa cuối thế kỷ 17. Ngài là vị Tổ truyền phái Lâm Tế vào miền Trung Việt Nam đầu tiên, và đã đóng góp nhiều công đức trong việc phục hưng và phát triển Phật giáo ở Đàng Trong. Sau vài thập kỷ hoằng hóa ở Bình Định và Thuận Hóa, Ngài cùng một số đệ tử vượt núi băng ngàn vào phương Nam, dừng chân tại vùng đất Đồng Nai. Tại đây, vào cuối thế kỷ 17, Ngài cùng các đệ tử là Ngài Minh Vật Nhất Tri kiến lập ngôi tổ đình Quốc Ân Kim Cang, Ngài Thành Nhạc khai sơn chùa Long Thiền, Ngài Thành Đẳng khai sơn chùa Đại Giác, Ngài Thành Ý khai sơn chùa Bửu Phong. Ngày nay, các ngôi Long Thiền, Đại Giác, Bửu Phong vẫn tồn tại ở Biên Hòa, Đồng Nai và là những ngôi cổ tự danh tiếng. Thế nhưng ngôi Tổ đình Kim Cang ở đâu?

Tổ đình Quốc Ân Kim Cang hiện ở xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, cách trung tâm TP Biên Hòa khoảng 12 km. Đây là ngôi Tổ đình:

7 thg 11, 2019

Tơ hồng ai bán, ai mua?

Đi chợ đêm Phú Quốc vui lắm! Ngoài chuyện bán đủ thứ đồ ăn và hàng hóa lưu niệm, các xe đẩy bán quà vặt tạo nên những hoạt cảnh sinh động, vui mắt. 

Kẹo tơ hồng/kẹo chỉ

Thí dụ như một món mà họ gọi là kem cuộn Thái Lan. Không chỉ bán kem, người bán còn... biểu diễn múa dao. Âm thanh băm gõ cạch cạch đều đặn tạo sự chú ý. Tui hỏi con tui đang cùng đi: Gõ chi vậy? Trả lời: họ băm cho kem tán đều ra để dễ cuộn lại. Hỏi: Sao con biết? Trả lời: Ở Sài Gòn cũng có mà ba!

5 thg 11, 2019

Mê Linh biệt khúc và Mưa lạnh trên đèo

Trong vở cải lương nổi tiếng Tiếng trống Mê Linh có một đoạn ca diễn mà hầu như ai cũng biết, được đặt tên thành một khúc ca riêng. Đó là Mê Linh biệt khúc, lớp ca diễn giữa Trưng Trắc (Thanh Nga) và Thi Sách (Thanh Sang).




MÊ LINH BIỆT KHÚC

(Trưng Trắc) Trong giây phút chia tay, 
Tim nguyện ghi lời thề. 

(Thi Sách) Tuy xa nhau muôn dặm dài, 
Nhưng có nhau kề vai trong chinh chiến, 
Dẫu muôn đắng cay chi sờn 

(Trưng Trắc) Bầu trời Nam u tối. 
Quân thù gieo bạo tàn. 
Ta vui riêng đâu đành lòng. 
Đem máu xương cùng muôn dân son sắt 
Nhớ nhau chớ quên câu thề. 

(Thi Sách) Đêm nay có xa nhau 
Cho ngày mai ta lại gần.

(Trưng Trắc) Ôi trăng sao trên bầu trời, 
Như sáng soi đường ra biên ải 
Có em dõi theo chân chàng. 

(Thi Sách) Kìa hồn thiêng sông núi!
Nghe từ xa vọng về.
Ta chung lo ngăn giặc thù.
Mai mốt đây nhìn non sông tươi thắm.
Ngày về vinh quang!

Giai điệu của khúc ca này được yêu thích đến nỗi Mê Linh biệt khúc trở thành một bài bản nhỏ và đưa vào nhiều tuồng cải lương khác. Thế nhưng xuất xứ của điệu hát này lại không phải từ vở cải lương Tiếng trống Mê Linh, mà là từ một bài dân ca Đài Loan có tên là A Lý sơn đích cô nương (阿里山的姑娘, Cô nương núi A Lý, trong đó A Lý Sơn là một dãy núi ở huyện Gia Nghĩa, Đài Loan, nổi tiếng là thắng cảnh). Bài dân ca này được đưa vào rất nhiều vở cải lương Hồ Quảng, và thường được gọi tên là Alysan hay Cao-Xang-Xim (tên gọi này bắt nguồn từ 3 chữ đầu tiên của bài hát gốc: "Cao sơn thanh, giản thủy lam,…", dịch ý: "Non cao xanh, khe nước biếc,…").

Bài Mê Linh biệt khúc được cho là của soạn giả Vĩnh Điền. Khác với giai điệu nguyên bản có tiết tấu nhanh, vui tươi, soạn giả Vĩnh Điền đã dùng bài này với tông nhạc da diết bịn rịn hơn hẳn bài gốc, rồi cảm tác từ lớp diễn đó mà đặt thêm một cái tên nữa là "Mê Linh biệt khúc". Một số thông tin khác, có lẽ căn cứ vào thông tin của soạn giả Nguyễn Phương, thì cho rằng bài Mê Linh biệt khúc là tác phẩm của soạn giả Viễn Châu.

Đây là bài gốc Cô nương A Lý Sơn:


Những người sống ở miền Nam trước 1975 lại có thể nghe Mê Linh biệt khúc có nét giống với một bài hát được sáng tác từ năm... 1964 của nhạc sĩ Lê Dinh, đó là bài Mưa lạnh trên đèo. Xin mời nghe lại bài này, bản thu từ hồi xưa.


Sao có sự trùng hợp lạ vậy? Không có gì lạ cả, vì trong sheet nhạc của mình nhạc sĩ Lê Dinh đã ghi rõ: Dựa theo một thể điệu Trung Hoa.




Đọc thêm lời đề tặng của tác giả ta càng hiểu rõ hơn nguyên do ra đời của tác phẩm:


Chỉ có điều là từ bài ca của cô sơn nữ núi A Lý bên Đài Loan mà Lê Dinh biến thành khúc ca của cô Mường trên cao nguyên Việt Nam thật mùi mẫn thì quả là... bái phục!

Phạm Hoài Nhân

4 thg 11, 2019

Đường chiều sơn cước

Nhạc sĩ Lê Dinh có một loạt bài hát  lấy bối cảnh là miền cao nguyên, sáng tác vào khoảng giữa thập niên 196x. Đó là những bài hát ông sáng tác riêng một mình, như: Mưa lạnh trên đèo, Chiều lên bản Thượng, Thương về xứ Thượng, Nỗi buồn Châu Pha... Và những bài viết chung với Minh Kỳ, như: Đường chiều sơn cước, Người em xứ Thượng, Tiếng hát Mường Luông... Hầu hết những bài này đều được yêu thích, trong đó phổ biến nhất có lẽ là Chiều lên bản Thượng Nỗi buồn Châu Pha

Bộ ba nhạc sĩ Lê Dinh - Minh Kỳ - Anh Bằng, thường sáng tác chung với nhau và dùng nghệ danh Lê Minh Bằng

31 thg 10, 2019

Sầu xĩ phãng

Đừng nghĩ Sầu xĩ phãng là nhạc Hoa nhé. Nó là nhạc tiếng Tây Ban Nha, nhưng phổ biến hơn ở Việt Nam với lời tiếng Pháp, qua tựa đề là Qui sait, qui sait, qui sait. 

Đây là một ca khúc boléro do nhạc sĩ Cuba Osvaldo Farrés sáng tác năm 1947 bằng tiếng Tây Ban Nha với tựa đề "Quizás, quizás, quizás" ("Có lẽ, có lẽ, có lẽ"). Bài hát nhanh chóng nổi tiếng và được đặt lời bằng hàng chục thứ tiếng khác nhau, trong đó có tiếng Việt. 
Lời tiếng Anh có tựa đề "Perhaps, perhaps, perhaps" do Joe Davis đặt, lời tiếng Pháp có tựa đề "Qui sait, qui sait, qui sait" do Jacques Larue đặt. Ở Việt Nam, ca khúc được Minh Trang - vợ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước - đặt lời tiếng Việt dưới nhan đề "Sầu dĩ vãng". Hai ca sĩ trình bày là Quỳnh Giao (con của cô Minh Trang)Thái Thanh.

Ca sĩ Minh Trang (giữa) cùng con trai Bửu Minh và con gái Đoan Trang (tức ca sĩ Quỳnh Giao)

22 thg 10, 2019

Nhạn đậu cành sung, anh giương cung bắn nhạn...

Nhạn đậu cành sung, anh giương cung bắn nhạn
Con nhạn lụy rồi, anh biết làm bạn với ai?

(hoặc Nhạn thác đi rồi, anh biết làm bạn với ai?)

Hồi nhỏ, tui nghe má tui hát ru như vậy. Lời ru buồn buồn, mang vẻ tiếc nuối vì một sự lỡ lầm nào đó. Tui nghe, chìm đắm trong lời ru của má và nhớ hoài giai điệu da diết ấy, mặc dù... không hiểu gì hết! Anh là ai? Sao lại bắn con nhạn? Sao nhạn lại đậu cành sung?



Rồi hơn nửa thế kỷ trôi qua, má tui đã qua đời, dĩ vãng đã trôi xa thật là xa. Bây giờ không còn nghe hát ru nữa, người ta dỗ trẻ bằng cách... mở YouTube. Đôi khi trong tiềm thức tui nhớ lại câu hát ngày nào, thương nhớ khôn nguôi, nhưng dù đã là một ông già tui... vẫn chưa hiểu câu ca trên muốn nhắn nhủ điều gì.

Rồi tui tình cờ đọc một truyện ngắn của nhà văn Trang Thế Hy, kể về một người nữ nghệ sĩ nghèo tên Hai Nhạn, ở kết truyện ông đặt lại câu hỏi giống như tui hồi nào:

Nhạn là con chim gì? Con nhạn lụy rồi, anh làm bạn với ai? Tâm trạng của nhà thơ dân gian nào hồi xưa mượn cái khủng khiếp của sự cô đơn để răn đe kẻ giương cung bắn nhạn là tâm trạng gì, yêu mến cô đơn hay sợ hãi cô đơn?

Rồi ông mượn một tiếng nói từ cõi hư vô để trả lời cho chính mình:

Ông già lẩm cẩm, đừng đòi hỏi lời thuyết minh thỏa mãn cho tất cả mọi câu đố của cuộc sống, nhứt là những câu đố về cái dẹp. Có những cái đẹp chỉ đẹp khi ta nhìn nó qua lớp sương mù của sự mơ hồ. Như con nhạn của ông chẳng hạn.

Câu trả lời mà không trả lời này dường như đã làm tui chợt hiểu. Và tui tiếp tục chiêm nghiệm cái triết lý của ông về sự hạnh phúc:

Gặp hạnh phúc là người nào trong tuổi già vẫn còn giữ được nguyên vẹn tình yêu của mình đối với cái gì mình đã yêu thương từ thuở ấu thơ. Niềm hạnh phúc đó, đương nhiên là phải được trả giá bằng rất nhiều đau khổ.


Phạm Hoài Nhân

20 thg 10, 2019

Thế nào là một bài thơ "hay đến chết người"?

Mỗi khi nghĩ tới Phụ nữ Việt Nam, tôi lại nghĩ tới Trưng Nữ Vương. Mỗi khi nghĩ tới Trưng Nữ Vương, tôi lại nhớ tới bài thơ cùng tên của nữ sĩ Ngân Giang. Một tuyệt tác thơ ca của Việt Nam.