24 thg 8, 2026

Chuyện tình của tướng quân Châu văn Tiếp qua... tiểu thuyết

Châu văn Tiếp là một danh tướng, một khai quốc công thần thời chúa Nguyễn Ánh. Ông đã từng được người đời xưng tụng là một trong Gia Định Tam Hùng (hai người còn lại là Võ Tánh và Đỗ Thanh Nhơn). Với vai trò nổi bật, trong những câu chuyện lịch sử về Gia Long - Nguyễn Ánh, hành trạng của Châu văn Tiếp được nhắc đến rất nhiều. Ở đây tui muốn nhắc đến một bộ tiểu thuyết như vậy. Đó là bộ truyện lịch sử về vua Gia Long của Tân Dân Tử.

Lăng mộ Châu văn Tiếp ở Hắc Lăng, Long Điền

Trước hết xin được nhắc qua về Tân Dân Tử. 

Tân Dân Tử (1875 – 1955), tên thật là Nguyễn Hữu Ngỡi, là một trong những tiểu thuyết gia tiền phong của nền văn học hiện đại Nam bộ và Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại làng Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh). Bút danh Tân Dân Tử nghĩa là người dân mới.

Tác giả Tân Dân Tử

Tân Dân Tử đóng góp quan trọng cho sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ giai đoạn sơ khởi, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết trinh thám - kiếm hiệp. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là Giọt máu chung tình, xuất bản năm 1926. Hai nhân vật chính trong tiểu thuyết này đã quá quen thuộc với nhiều thế hệ, đó là Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà, nhờ tiểu thuyết này đã được chuyển thể thành cải lương và bài vọng cổ tuyệt tác của soạn giả Viễn Châu. Ngẫu nhiên thay, một người còn lại trong Gia Định tam hùng cũng được nhắc đến trong tiểu thuyết này. Đó là Võ Tánh, ông là phụ thân của nhân vật chính Võ Đông Sơ.

Bộ ba tiểu thuyết nổi tiếng khác của ông là bộ truyện về Gia Long - Nguyễn Ánh: Gia Long tẩu quốc (1930, 5 tập) - Hoàng tử Cảnh như Tây (1931, 2 tập) - Gia Long phục quốc (1932, 4 tập). Tóm tắt nội dung chính của các quyển như sau:

Bìa sách Gia Long tẩu quốc, quyển 1
  • Gia Long tẩu quốc: Tái hiện chặng đường gian khổ của Nguyễn Ánh khi nương nhờ dân Nam Bộ, bôn tẩu khắp sông nước hải đảo để thoát khỏi sự truy sát của quân Tây Sơn.
  • Hoàng tử Cảnh như Tây: Kể về chuyến vượt đại dương sang Pháp làm con tin của Hoàng tử Cảnh cùng Giám mục Bá Đa Lộc để xin viện trợ về lại Gia Định.
  • Gia Long phục quốc: Thuật lại các cuộc phản công khốc liệt của Nguyễn Ánh, đánh bại hoàn toàn nhà Tây Sơn và lên ngôi thống nhất đất nước.
Bìa quyển nhứt bộ Hoàng tử Cảnh như Tây, vẽ hình Châu văn Tiếp đang tiếp kiến Gia Long Nguyễn vương.

Châu văn Tiếp xuất hiện ở một số chương trong Gia Long tẩu quốc. Trong Hoàng tử Cảnh như Tây, ông xuất hiện gần như xuyên suốt tác phẩm, và quyển này kết thúc bằng cái chết của ông. Sang đến quyển Gia Long phục quốc, do Châu văn Tiếp đã chết, ông chỉ được nhắc đến một lần ở chương đầu khi Nguyễn Ánh bày tỏ lòng thương tiếc và tưởng nhớ ông.

Dưới đây là tóm tắt nội dung các chương hồi trong bộ ba tiểu thuyết trên có nhắc đến Châu văn Tiếp:

GIA LONG TẨU QUỐC

Quyển 1, Hồi thứ Hai: Châu Văn Tiếp vốn quê ở Phú Yên, khi Tây Sơn dấy loạn, ông mộ binh sĩ tại núi Trà-lang-Sơn. Khi đang đóng quân thám thính tại Long Xuyên, ông hay tin tướng Tây Sơn là Bùi Khắc Phú cậy quyền ép duyên cô gái hiền đức Ngọc Sương và giam cầm cha cô là Cử Khôi. Châu Văn Tiếp đã anh dũng xông vào tận phòng cứu Ngọc Sương, thẳng tay chém chết Bùi Khắc Phú ngay tại trận.

Quyển 1, Hồi thứ Ba: Sau khi tiêu diệt Bùi Khắc Phú, Châu Văn Tiếp phát hiện một bức mật thư của Nguyễn Huệ gửi đi truy tìm Nguyễn Ánh. Nghe lời khẩn cầu của Ngọc Sương, ông sai bộ hạ là Đội Tam lẻn vào khám đường giải thoát thành công cho ông Cử Khôi. Cảm kích trước ơn cứu mạng, Cử Khôi ngỏ ý gả Ngọc Sương cho ông. Dù vô cùng cảm mến, Châu Văn Tiếp xin trì hoãn việc cưới hỏi để lên đường phò tá chúa Nguyễn phục quốc, hẹn ngày thái bình sẽ kết duyên. Sau đó, ông tức tốc phi ngựa mang bức mật thư về báo cho Nguyễn Ánh

Quyển 1, Hồi thứ Bảy: Châu Văn Tiếp lúc bấy giờ đang ở Ba Giồng lo chiêu mộ nghĩa dõng, rèn luyện binh sĩ và đóng chiến thuyền. Tại đây, ông hội ngộ với tướng Nguyễn Hữu Thoại – người mang mệnh lệnh của Nguyễn Ánh từ Cần Thơ về để bàn định ngày khởi nghĩa, phối hợp các đạo quân ở các mặt trận để chuẩn bị tiến đánh tái chiếm Gia Định

Quyển 2, Hồi thứ Mười sáu: Sau khi phò tá Nguyễn Vương thâu phục được Sài Gòn, Châu Văn Tiếp được phong chức Khâm-sai Đô-đốc, nhận trọng trách trấn thủ hai vùng đất hiểm yếu là Bình Thuận và Khánh Hòa. Tại biên thùy, ông ngày đêm chấn chỉnh binh nhung, luyện tập quân sĩ, đắp đồn lũy phòng ngự quân Tây Sơn. Khi đứng trên vọng đài quan sát địa thế, ông trầm tư mặc tưởng, gửi lòng thương nhớ khôn nguôi về người vợ chưa cưới Ngọc Sương

Quyển 5, Hồi thứ Hai mươi bốn: Ở chương này, Châu Văn Tiếp không xuất hiện trực tiếp mà hiện lên qua lời khai của tướng Tây Sơn bị bắt là Hồ Duy Nhựt. Hồ Duy Nhựt kể lại chiến tích của Châu Văn Tiếp tại Trà-lang-Sơn khi ông dùng mưu kế tuyệt diệu: cho bộ hạ giả dạng làm hành khách đi chung thuyền, bất ngờ áp sát khống chế quân Tây Sơn, đoạt toàn bộ lương thảo và khí giới đem về căn cứ

HOÀNG TỬ CẢNH NHƯ TÂY

Quyển 1, Hồi thứ Nhất và Hồi thứ Hai: Khi chúa Nguyễn lại thất thủ Sài Gòn phải lánh ra Phú Quốc, Châu Văn Tiếp lập tức rút lên núi Trà-lang chiêu mộ quân sĩ, tập hợp được hơn sáu ngàn quân tinh nhuệ. Tài dũng của ông khiến tướng Tây Sơn trấn thủ Sài Gòn là Đỗ Nhàn Trập vô cùng kiêng dè. Châu Văn Tiếp đã dùng quỷ kế chế tạo hàng loạt hình nhân bằng rơm đứng trên thuyền chiến để nghi binh dụ hỏa lực địch, rồi bất ngờ dẫn binh đánh úp, thu phục thành công Sài Gòn. Ngay sau đó, ông sai tướng ra Phú Quốc đón Nguyễn Vương hồi loan và đích thân tổ chức tiệc tẩy trần đón chúa tại Hậu Giang

Quyển 2, Hồi thứ Mười hai: Châu Văn Tiếp vâng lệnh Nguyễn Vương sang Vọng Các (Xiêm La) cầu viện binh thuyền. Trong trận thủy chiến khốc liệt tại mặt trận sông Mân Thích chống lại quân Tây Sơn, ông dẫn đầu quân Xiêm, lập chiến công hiển hách khi nhảy qua tàu giặc chém tướng đoạt thuyền. Tuy nhiên, trong lúc hỗn chiến, ông bị một tướng Tây Sơn núp dưới mũi thuyền đâm lén một mũi thương chí mạng vào hông. Khi được đưa về một ngôi chùa tại Xiêm dưỡng thương, ông đã có cuộc hội ngộ cuối cùng đẫm nước mắt với Ngọc Sương – người bấy lâu nay lưu lạc đi tìm ông

Quyển 2, Hồi thứ Mười ba: Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Châu Văn Tiếp vẫn một lòng ưu quốc ái dân, đau đáu lo việc quân cơ chưa thành. Ông qua đời vào mùa đông năm Giáp Thìn (1784) khi mới 35 tuổi. Cái chết của ông khiến Nguyễn Vương vô cùng đau đớn như "gãy mất cánh tay bên hữu", ra lệnh đình chiến ba ngày để chịu tang. Chương này cũng khép lại cuộc đời ông bằng chi tiết kỳ ảo: linh hồn ông được tiên thần đón rước về trời, phục hồi thần vị Bắc-đầu-hành-tinh

Bìa sách Hoàng tử Cảnh như Tây quyển 2, vẽ hình Gia Long Nguyễn vương, hoàng tử Cảnh và giám mục Bá Đa Lộc.

GIA LONG PHỤC QUỐC

Quyển 1, Hồi thứ Nhất: Châu Văn Tiếp lúc này đã mất. Sự ra đi của vị Đô đốc tài ba được nhấn mạnh là một tổn thất không thể bù đắp. Nguyễn Vương than thở rằng vì Châu Văn Tiếp đã "thất rồi" nên không còn vị tướng nào đủ uy tín và năng lực để kềm chế sự tàn bạo, kiêu ngạo của các tướng Xiêm (Chiêu Tăng, Chiêu Sương), dẫn đến việc quân Xiêm tự ý cướp bóc, làm hại dân lành.

Bìa sách Gia Long phục quốc, quyển 1

Qua các tóm tắt trên, có thể thấy tác giả tập trung khá nhiều vào chuyện tình của Châu văn Tiếp. Chắc đây là một thủ thuật của ông để thu hút độc giả. Sau đây là trích nguyên văn đoạn cuối của quyển 2 sách Hoàng tử Cảnh như Tây, hồi 13, nói về những giây phút cuối đời của Châu văn Tiếp. Tui giữ nguyên lỗi cú pháp, lỗi chánh tả của văn bản gốc vì... lười sửa, vì không biết sửa như thế nào, nhất là muốn độc giả thấy được cách viết của cha ông ta cách nay gần trăm năm.

(đoạn này Châu văn Tiếp nằm dưỡng thương ở gần một ngôi chùa, cô Ngọc Sương đang tá túc trong chùa vô tình phát hiện ra viên tướng quân đang bị trọng thương chính là vị hôn phu của mình)

— Bẩm Đô-đốc, cô nương đây là ai?

Châu-văn-Tiếp nói: là người gá nghĩa tóc tơ cùng ta khi xưa, song bấy lâu kẻ bắc người nam, ngày nay mới đặng trùng phùng hội ngộ.

Quán lương-y lấy tay bắt mạch một chút rồi nói rằng: Bẩm Đô-đốc canh đã khuya rồi, xin Đô-đốc, nính nghỉ một chút mà tịnh dưỡng tâm thần, chẳng nên thức khuya, e mệt lòng tổn sức, nói rồi bảo tên Khán-Hộ rót một chén nước sâm đem lại cho Châu-văn-Tiếp uống, rồi cúi đầu từ giã lui ra; trở về tư thất.

Cô Ngọc-Sương nghe lương-y dặn bảo như vậy thì biết người không muốn cho Châu-văn-Tiếp thức khuya, nên cô bước lại khuyên rằng :

Tình-quân ôi! vậy xin tình-quân nính nghỉ một chút, đặng cho khoẻ khoắn tâm thần, để em ở đây coi chừng, xin tình-quân chớ ngại.

Châu-văn-Tiếp nghe cô nói vậy, rất cám nghĩa thương tình, rồi nhắm mắt nằm yên không nói chi nữa.

HỒI THỨ MƯỜI BA

Bái Quan-âm, Hồng-ngọc-Sương kiến mộng.
Chầu Thượng-đế, Châu-văn-Tiếp qui thiên.

Đèn tàn một ngọn, leo heo khi tỏ khi mờ, tiếng dế năm canh, thẳm thỉ như than như khóc, một lát bồng nghe bên vách thằn lằn chắc lưỡi, một hồi lại nghe ngoài rừng chim Ục cầm canh, những tiếng ấy lọt vào tai cô Ngọc-Sương chừng nào, thì làm cho cô ruột sầu dường như héo don từng đoạn.

Lúc nãy cô Ngọc-Sương thấy Châu-văn-Tiếp ngủ. liền sẽ lén bước ra ngoài phòng, rồi nghĩ rằng: Bây giờ đương lúc trời thanh sao tỏ, đêm tịnh canh khuya, vậy thì ta thừa dịp nầy, ra trước tiền đình, mà khấn bái phật trời, phò hộ cho chồng ta, đặng tai qua nạn khỏi, bệnh giảm thương lành, kẻo đau đớn bệnh hoạn như vầy, thật là tội nghiệp cho một người trung thần liệt sĩ. Cô nghĩ rồi liền bước ra trước chùa, đặt bày hương-án, đốt thắp nhan đèn, rồi đứng giữa phật tòa mà khấn rằng :

— Tôi tên Hồng-ngọc-Sương, là một gái đào thơ liễu yếu, xin cúi dâng tất dạ kính thành, đặng khấn cùng Nam-hải Quan-Âm, vái cùng Hoàng-thiên-thượng-đế, xin đem lòng từ huệ, cứu kẽ phàm trần, lấy đức háo sanh, độ người tai nạn. Chồng tôi là Châu-văn-Tiếp, vẫn đứng trung thần liệt sĩ, ra công dẹp loạn phò nguy; Chẳng may lâm nạn bị thương, đương lúc bệnh nghèo thế ngặc, nếu trời còn gin mạng, phật có lòng thương, thì xin cho bệnh hoạn mạnh lành, đặng trước là giúp nước phò vua, sau là vợ chồng tôi được một nhà sum hiệp.

Cô khấn rồi gục đầu trước hương án, vái lạy một hồi, khi lạy đặng hai ba lần, cô liền trở gót vào phòng, bồng nghe Châu-văn-Tiếp la lên rền rỉ và nói :

Tây-sơn hởi bây, ta thệ cùng bày sống chết một trận, rồi lại rên lên mà rằng: Tinh-nương em ôi! tội nghiệp cho em vì ta mà phải giang hồ lưu lạc, uống thẳm ăn sầu, thảm thay cho em, thân gái một mình, phòng loan chích bóng, nói rồi mắt nhắm liêm diêm, mà tâm thần xem rất mê mệt.

Cô Ngọc-Sương lại ngồi bên giường, lấy tay rờ trán, thấy da nóng như lửa, mà trằn trọc không yên, cô bèn rót một chén nước trà rồi kêu và nói :

— Tình-quân ôi! day lại uống một chén nước cho giãi khác, nhưng Châu-văn-Tiếp cứ nằm mê mang chẳng nói chi hết, cô thấy vậy càng thêm rối trí, liền kêu tên Khán-Hộ bảo đem thuốc lại, rồi cô lấy muỗng múc thuốc cho uống đặng ít muỗng, một lát cô lại đặt tay vào trán coi chừng, nhưng nóng cũng không thấy bớt, cô cứ ngồi dựa bên giường trót đêm, không hề nhắm mắt.

Kế sáng hai lương-y vào phòng chẩn mạch, và săn sóc chỗ thương: coi rồi day lại nói với cô rằng:

— Chỗ thương của quan Đô-đốc bây giờ đương hành, nên phát nóng-mê sãng-sốt ; vậy để uống một thang thuốc nữa, nếu ngày nay bớt nóng, thì bệnh thế có vẻ giảm thiêng, bằng nóng không lui, thì e bệnh thế khó bề điều trị.

Cô Ngọc-Sương nghe lương-y nói vậy, thì rất phập phồng hồi hộp, bèn hối tên Khán-hộ sắc thuốc cho mau, rồi bổn thân cô săn sóc cho uống, còn các lương-y coi nịch chỗ thương, nhưng thuốc uống đã trót vài giờ mà nóng cũng không thấy chút nào thiêng giảm.

Cô Ngọc-Sương cứ việc châm nom săn sóc, cần mần thuốc thang. Song thấy Châu-văn-Tiếp hai mắt cứ nhắm mê mang, mà trong mình nóng hực như lửa, thì cô càng mặt hoa ũ đột, mày nguyệt nhăn nho, nồi sợ xen với nồi lo, hai cái đánh giặc cùng nhau trong lòng, làm cho cô cả và tâm hồn đều rúng động, rồi cô kề miệng một bên, vừa kêu vừa hỏi.

— Tình-quân ôi! trong mình tình-quân bây giờ thế nào, mà sau cứ nằm thiềm thiếp như vậy? tình-quân ôi! trong mình có bớt mệt không? chỗ thương có bớt đau không? xin mình nói cho em biết kẻo em sợ lắm.

Châu-văn-Tiếp nghe cô kêu hỏi mấy lời, thì mở mắt ngó cô cách thẫm buồn, và nói tiếng yếu ớt rằng:

— Tinh nương em ôi! ruột gan ta bây giờ nóng lắm, em cho ta một miếng nước sâm. Cô lật đật rót một chén đem lại. Châu-văn-Tiếp uống một hơi rồi rãu mắt ngó ra cửa phòng và hỏi : quan lương-y ở đâu?

Quan lương-y nghe hỏi bước vô, bẩm rằng :

— Bẩm Đô-đốc tôi đây, Đô-đốc có việc chi hang hỏi?

Châu-văn-Tiếp mở mắt thấy quan lương-y thì hỏi rằng :

— Hoàng-thượng bây giờ ở đâu? quân giặc dẹp chưa?

— Bẩm Đô-đốc, Hoàng-thượng còn ở ngoài chiến trường, quân giặc chưa yên, nên Hoàng-thượng còn đương cầm binh đốc chiến.

Châu-văn-Tiếp nheo mày và nói: quân giặc chưa yên sao? vậy quan lương-y làm ơn đem ta ra chỗ chiến-trường, đặng ta giúp cùng Hoàng-thượng.

— Bẩm Đô-đốc, xin Đô-đốc tịnh dưỡng ít ngày cho lành mạnh, rồi sẽ đi mới đặng.

— Ta bây giờ đã khá rồi, nếu ta ra đó thì ta sẽ mạnh tức thì, không sao đâu phòng sợ.

— Bẩm Đô-đốc, Đô-đốc chưa mạnh, xin phải tịnh dưỡng ít ngày, chẳng nên hành động chi hết.

— Không sao đâu mà, quan lương-y hãy để ta đi, thì ta sẽ mạnh. Nói rồi day mặt vô vách, một lát trăn trở, một lát rên la: để ta đi, dễ cho ta đi.

Quan lương-y day lại nói với cô Ngọc-Sương rằng :

— Quan Đô-đốc đương lúc nóng mê, nên nói sảng sốt, xin cô-nương coi chừng, nếu có đều chi khác thường xin cho tôi biết.

Cô Ngọc-Sương thấy Châu-văn-Tiếp lúc mệt lúc khỏe, cơn tĩnh cơn mê, thì giọt lụy thương tâm của cô tràng ra, chẳng biết ngẩn nào mà lau cho ráo, đó rồi mỗi đêm trong lúc trời thanh canh tịnh, cô mới ra trước chùa, hương đăng trà quả, mà khấn phật cầu trời, cho Châu-văn-Tiếp đặng bệnh giảm thương lành, nạn qua tai khỏi, cô khấn đảo cầu nguyện như vậy đã trót mấy đêm, nhưng bệnh thế chẳng thấy chút nào giảm thiêng, mà càng ngày càng thêm trầm trọng.

Các lương-y ngày đêm săn sóc, sớm tối thuốc thang, nhưng rốt cuộc đã hết thế cùng phương, mà không thấy thuốc nào công hiệu. Đêm nọ, Cô Ngọc-Sương ở trước phật tòa, hương đăng khấn vái, rồi gục đầu dựa bên hương án, đương lúc mơ màng phách quế, phưỡng phất hồn mai, bồng thấy một con bươm bướm rất to, hai cánh có hai khoanh tròn như hai mặt trăng, và quanh mình ửng ra năm sắc rất đẹp, trên đầu có hai vòi mọc lên như 2 nhánh kim Huê, sau lưng chói sáng như vàng rơi, trước mình chớp lòa như bạc rắc, thỉnh thoáng trên không bay xuống, hai cánh xếp lại ra phía sau lưng, thì thấy một gái đẹp đẻ phi thường, dường như một ã Hằng-nga lạc lối, hay là một vị tiên-tử xuống trần, rồi phăn phăn ngoài cửa bước vào chào cô Ngọc-Sương và nói :

— Ta là Hồ-điệp-Tiên-nữ, vâng lệnh Nam-hải Quan-Âm, đến vời cô-nương yết kiến.

Cô Ngọc-Sương nghe nói rất kinh, day lại hỏi rằng :

Thưa Tiên-Nương, chẳng biết Nam-Hải Quan-Âm ở đâu? mà đòi tôi việc gi, xin Tiên-Nương nói cho tôi rõ.

Hồ-điệp-tiên-nữ nói: Quan-Âm bây giờ đương ở tại Nam-Hãi, Hồng-quang—bửu-điện, bão vời cô-nương, song chẳng rõ việc gì, xin cô-nương tới đó thì biết.

Cô Ngọc-Sương liền theo Hồ-điệp-tiên-nữ bước ra khỏi chùa, kế thấy tiên-nử vói tay lên trời, rồi ngoắc một cái và kêu lên một tiếng «Thanh-Nga» tức thì thấy một con chim rất to, ở trên lùm mây phăn phăn bay xuống, đứng trước sân chùa, mình mặc một bộ áo lông xanh, đầu đội một cái mão mồng đỏ, hai mắt lóng lánh như hột Hỏa châu, hai cánh sè ra dài hơn hai trượng, Hồ-điệp-tiên-nữ day lại nói với Cô Ngọc-Sương rằng: Xin cô nương cởi con chim nầy đặng đi cho mau, nói rồi đưa tay dắt cô Ngọc-Sương leo lên. Và la một tiếng bay, tức thì chim ấy sè hai cánh ra, quạt lên một cái, thì dả cất bổng trên không.

Hồ-điệp-tiên-nữ, củng sè hai cánh ra như hai cây quạt, phất phất phiêu phiêu, bay theo chim ấy cách nhẹ nhàn thong thoả. Cô Ngọc-Sương thấy chim ấy bay lên rất cao, thì hoảng kinh, bèn la lên rằng :

— Tiên-Nương ôi ! tôi ngợp lắm, xin đễ cho tôi xuống, kẻo chán ván mặt mày, không thể nào chịu đặng.

Hồ-điệp-Tiên-nử ngó lại, mĩn cười mà rằng :

 Cô hãy nhắm mắt lại và ngồi cho vững vàng, không sao mà sợ, nói rồi liền bay tới lẹ làng, khi lên cao, lúc xuống thấp, khi liệng lại, lúc phớt qua, cả hai đều nương theo ngọn gió băng chừng, thỉnh thoảng đường mây lước dậm.

Cô-Ngọc-sương ngồi trên lưng chim Thanh-Nga hai mắt nhắm lại, bỗng nghe bên tai gió kêu vụt vụt, một lát lại nghe giông thổi ồ ồ, làm cho mấy chơn ốc mấy kẻ lông trong mình cô, đều lạnh cùng rởn ốc. Cô Ngọc-sương làm thinh lẳng lặng mà trong lòng đã phách lạc hồn phi, kế nghe Hồ-điệp-tiên-nữ kêu lớn lên rằng :

Thanh-Nga, mi hãy bay bổng lên cho khỏi mấy từng mây đen, rồi tuốt lên mấy từng mây trắng.

Tức thì chim ấy kêu lên một tiếng thanh như tiếng chuông, rồi chớp hai cánh quạt lên ồ ồ, nghe như một luồng gió thổi tới rất mạnh.

Cô Ngọc-Sương rất nên kinh hãi, và trộm nghỉ thầm than rằng: trời ôi! Chim nầy đả bay lên khỏi mây rồi sao? Chẳng biết nó bay đi hướng nào, mà xem ra lồng lộng trời cao, minh mông thế giới như vầy? vậy thì mình đánh liều mở mắt một chút, đặng xem thử thế nào, kẽo trong lòng cứ phập phồng lo sợ, nghỉ rồi, cô làm dạng mỡ hé mắt ra, thấy mấy từng mây bao giản bốn phía, điệp điệp trùng trùng, từng thì mây đen như mực, từng thì mây trắng như phao, từng lại mây vàng, từng thì mây đỏ, mù mù như khói toã, mịch mịch tợ sương bay, chỗ thì rủ xuống như màng treo, chỗ lại giản ngang như gấm trải.

Cô Ngọc-sương rất nên kinh dị, liền kêu Hồ-điệp tiên-nữ mà rằng :

 Tiên-nương ôi! Xin Tiên-nương làm ơn bão chim nầy hạ xuống, và bay chậm chậm một chút với nào! Kẻo gió vụt mây vần, làm cho tôi xây mày xẩm mặt.

Hồ-điệp-Tiên-nử thấy cô sợ, thì lấy lời an ủi mà rằng :

 Không hệ gì đâu, xin cô nương ngồi yên, chút nữa thì tới, nói rồi cứ việc bay đi, khi lên khỏi mấy từng mây rồi, thì thấy muôn dậm trời xanh, ngàn trùng sao tỏ, thật là một giãi Ngân-Hà lai láng, ba ngàn thế giới thỉnh thoảng, kia là vầng trăng rực rỡ, chói ra mấy ánh hào quang, nọ là sao bắc-đẩu sáng trưng, chiếm một phương trời tỏ rõ. Cô Ngọc-Sương ngó một hồi, xây xẩm mặt mày, tức thi nhắm liền mắt lại, rồi than rằng :

 Trời ôi! Thế thì tôi đả chết rồi đây sao? nên một mãnh thần hồn của tôi đả phưỡng phất theo mây theo gió. Chẳng biết người ta dắt tôi đi đâu, mà vượt từng mây nầy, qua từng mây khác. Người ta đem tôi lên thiên đàng đây sao? hay là dắc tôi vào địa ngục? tôi mắc tội tình gì đây, mà làm cho tôi kinh hồn điển ruột như thế? nói rồi thì cả mình cô đều rung bẩy bẩy như bị chứng cảm hàn; kế nghe Tiên-nử kêu lên rằng:

— Thanh-Nga, mi hãy bay cao lên ít từng mây nữa, đặng tránh ngọn Bắc-phong, kẻo nó thổi tới lạnh lắm.

Chim ấy liền vỗ cánh một cái, vượt lên hơn mấy từng trời, bay một hồi lâu, lại nghe Tiên-nử kêu và bảo rằng: Thanh-Nga, đây đả gần tới Nam-Hải rồi, mi hãy hạ xuống.

Chim ấy liền lần lần lượng theo ngọn gió hạ xuống, lúc bấy giờ cô Ngọc-Sương ngồi trên lưng chim, như ngồi trên một chiếc phi-thuyền, phơi phới đường mây tách dậm; vơi vơi mặt biển băng chừng, muôn trận gió kêu, ngàn trùng sóng lượng. Hồ-điệp Tiên-nử giăng hai cánh ra, liệng lên đáp xuống như con Đại-Bàng, và chim Thanh-Nga vần vần một hồi trên không, cô Ngọc-Sương ngó xuống nước như một tấm kiếng pha ly rất lớn, chớp lòa tinh tú, xem như mặt biển đeo xoàng; lóng lánh hào quang, thấy tợ lưng trời nhận ngọc.

Bổng chút thầy một cảnh Tiên-sơn đồ sộ, ở giữa một vòng thương hải minh-mông, bốn mặt sóng êm, tư bề gió tịnh, bồng thấy trên đảnh núi một ánh hào quang chói sáng, xạ ra các chỗ như một ngọn đèn Hồng.

Hồ-điệp tiên-nử liền kêu chim Thanh-Nga và bảo rằng :

— Thanh-Nga mi hãy coi theo chỗ ngọn đèn ấy mà hạ xuống. Vì chỗ đó là chỗ cái bửu-Tháp của Nam-Hải Quan-Âm, đề cho các phật La-hán kim-cang khi muốn đến viếng Quan-Âm, thì cứ theo ngọn đèn vọng-đăng nầy, mà hạ xuống cho dễ, cô Ngọc-Sương nghe nói liền ngó xuống, thật thấy một ngọn đèn sáng hoắc.

Chim ấy tức thì hạ xuống, đứng trước đầu non, Tiên-nử liền dắc Ngọc-Sương vòng theo mấy ngọn thanh tòng, đi qua mấy hàng tử trước, rồi thẳng vào một cửa thạch-động, kế lần lần bước lên mười cấp thạch-đình, thì thấy một cảnh Lê-viên rất đẹp, nào là kỳ-hoa dị-thảo, xem rất thanh lịch u nhàn, nào là phật điện tiên-cung, xem rất huy hoàng tráng lệ, kia là khe tòng nước bích, quanh co một giải trong veo; nọ là xóm lục làng hồng, rực rỡ bốn mùa xinh đẹp.

Cô Ngọc-Sương đi theo Tiên-nử quanh qua lộn lại, một hồi rất xa, khi lên tới đảnh núi, thấy một tòa hồng-quang bửu-điện, bốn mặc đá xây ngủ sắc, xem như gấm dệt hoa thêu, hai bên tháp dựng mấy từng, coi tợ vàng rơi bạc cần.

Tiên-nử dắc cô Ngọc-Sương bước tới trước điện, và nói rằng: Chỗ nầy là chỗ Quan-Âm bồ-tác ngự giữa tòa sen, nàng hãy đứng đây chờ người dạy bảo, nói rồi Tiên-nử liền bước vào trong điện.

Cô Ngọc-Sương liếc mắt ngó lên tòa sen, bổng thấy muôn ánh hào quang chói lòa cả điện, và thấy một bông sen rất lớn, mùi hương phưởng phất, thơm nực cả tòa, mỗi cánh mỗi màu nở lên, xem vào rất đẹp, kế Nam-Hãi Quân-Âm ngự giữa tòa sen, đầu đội một mão ngọc-quan, tù trên phủ xuống, chớp nhắn như sao  mình mặc một áo bác-bửu-minh-châu, sáng lòa như lửa, bên tả có Hồng-Hải, bên hữu có Long-nử, cả hai đều đứng chực hầu, bộ coi rất oai nghi nghiêm chỉnh, cô Ngọc-Sương liền quì xuống trước thềm, cúi đầu bái kiến.

Một chút nghe Quan-Âm kêu tiếng thanh thao mà rằng: Hồng-ngọc-Sương, ta thấy ngươi có lòng thành kính, tín ngưỡng phật trời, nên ta vời ngươi đến đây, mách bảo cho ngươi đặng rõ, những sự của ngươi cầu nguyện, ta không phương pháp hộ trì, vì Châu-văn-Tiếp là một vị bắc-đầu-hành-tinh, hóa thân giáng thế, nay mạng trời đã định, mãn kiếp trần-duyên, nên Thượng-đế phải đòi về Thiên-đình, đặng phục hoàng chánh vị. Cái duyên hội ngộ của ngươi với Châu-văn-Tiếp vẫn có bấy nhiêu, vậy thì ngươi hãy yên tâm, mà thuận theo mạng trời sở định. Quan-Âm phán rồi bèn bảo Tiên-nữ dắt cô Ngọc-Sương trở về. Khi ra khỏi Lê-viên, kế tới một chỗ thạch động. Cô Ngọc-Sương ngó vào, thấy một con khỉ rất to, mặt dài như ngựa, vóc lớn bằng người, hai mắt đỏ như hột Hỏa-châu, quanh mình bọc một bộ lông xám xám, cổ mang một cái xiềng sắt, buộc vào một cây trụ đồng. Khỉ ấy ở trong thạch động ló cổ dòm ra, thấy cô Ngọc-Sương, thì mắt ngó lom lom, rồi nhảy lại hằm hằm muốn chụp.

Cô Ngọc-Sương lật đật tránh ra, bồng thấy trên lưng khỉ ấy có ba chữ «Bùi-khắc-Phủ» rõ ràng, thì lấy làm một sự lạ lùng, bèn hỏi Tiên-nữ :

— Thưa Tiên-nương, chẳng biết con khỉ nầy sao lại có ba chữ đen đen trên lưng, như ai lấy mực viết vậy ?

Tiên-Nữ cười và đáp rằng: đó là tự nhiên lông đen mọc lên, thành ra ba chữ, chớ chẳng phải ai viết.

Cô Ngọc-Sương nghe nói, lấy làm một sự quái dị phi thường, rồi hỏi tiếp rằng :

— Thưa Tiên-nương, sao khỉ nầy lại có ba chữ ấy trên lưng là nghĩa gì, xin Tiên-nương nói cho tôi rõ.

Tiên-nử thấy cô gạn hỏi, thì vỗ vai một cái và cười mà rằng: Cô không biết ba chữ đó sao? Vậy để tôi cắt nghĩa cho cô nghe : Nguyên con khỉ nầy tiền căn nó là Bùi-khắc-Phú là một viên chiến tướng của vua Tây-Sơn. Khi tên nầy còn ở dương-trần, đã làm nhiều sự hung gian tàng ngược, hảm hại dân lành, đoạt của giết người, chẳng biết bao nhiêu tội ác. Nên khi chết xuống Âm-Phủ, Diệm-Vương bắt tội, bèn cho đầu thai làm khỉ, và ghi ba chữ tên họ trên lưng, đặng đề làm dấu tích trong một kiếp luân hồi của Bùi-khắc-Phú.

Cô Ngọc-Sương nghe rất sững sờ kinh dị và hỏi tiếp rằng:

Thưa Tiên-nương, rồi sao lại nhốt nó ở tại động nầy làm gì ?

Tiên-Nữ nói: Nguyên khi nó đầu thai làm khỉ ở tại Hoa-quả-sơn, Quan-Âm bữa nọ đi ngang qua thấy, nên bắt đem về, nhốt ở động nầy, từ ấy đến nay đã đặng ba năm, song con nghiệp-chưởng nầy quen tánh hung hăng, nên Quan-Âm bão xiềng vào trụ đồng, đặng cho nó ở đó mà tĩnh ngộ tiền phi, và tu tâm luyện tánh.

Cô Ngọc-Sương nghe thuật một chuyện rất kỳ, thì nghỉ thầm trong trí rằng: Bùi-khắc-Phú nào đây? phải là thằng đả làm hại mình năm trước đó chăng? phải là thằng đả bị Tình-quân mình giết chết đó chăng? Cô nghỉ như vậy, liền đứng lại gần, đặng xem ba chữ trên lưng cho rõ, chẳng dè khi cô mới vừa bước tới, khỉ ấy tức thì nhảy lại chụp cô một cái, nhưng chụp không nhắm, rồi miệng la nhóp nhép, trợn mắt nhăn răng, coi bộ rất hung hăng dữ tợn.

Tiên-nử thấy vậy liền lấy roi đồng-côn, đánh một cái trên lưng, và nói: con nghiệp-chướng nầy còn tánh hung hăng, mi chưa chịu cải.

Khỉ ấy bị đánh một roi rất đau, thì nhảy nhót tưng bừng và la lên tiếng rền cã động.

Tiên-nữ nổi giận và nói rằng: con độc nầy, mi còn lớn họng nữa sao? nói rồi đánh thêm mấy roi rất mạnh, khỉ ấy lại càng la lên mấy tiếng vang rảng, rồi hai tay dực xích bức xiềng, và nhảy lên xoi xói, làm cho cô Ngọc-Sương thấy vậy cũng hoảng kinh.

Hồ-điệp-tiên-nử liền dắc cô bước ra khỏi động, đi đặng một hồi, bổng thấy một con đường rộng rãi, lần lần dốc lên, cao tột tới mây, hai bên lề đường, đá dựng như lang cang, lá trỗ hoa đôm, vàng đỏ xen nhau, xem như gấm trãi, chỗ thì thấy tòng cao trăm thước, xuê xang nhánh phủ tàng che, chỗ thì bá dựng ngàn tầm, phưỡng phất mây lồng khói tỏa, thật là một con đường rất u-nhàn thanh lịch, biết bao gió mát trăng trong, thủy tú san kỳ, đầy dẫy hoa thơm cỏ lạ.

Cô Ngọc-Sương ngó lên thấy đường cao vọi vọi, mà lại xa biệt mù mù, thì hỡi Tiên-nữ rằng:

— Thưa Tiên-nương, chẳng biết con đường nầy đi đâu mà xem rất cao xa thăm thẳm như vậy.

Hồ-điệp-tiên-nử nói : đường ấy là đường lên thiên đình tiên cảnh, chỉ để cho các vị Tiên, phật, thần, thánh được đi mà thôi.

Cô Ngọc-Sương nghe rồi ngó xuống thấy một đường nhỏ hẹp, hai bên đầy những chông gai và hầm hố nguy hiểm, thì day lại hỏi Hồ-điệp-tiên-nử rằng :

Thưa Tiên-nương, còn đường nầy là đường nào, mà xem rất hẹp hòi gai gốc lắm vậy ?

Hồ-điệp-tiên-nử nói: tới đây đường phân hai ngã, con đường hẹp hòi gai gốc đó là đường xuống phàm trần, còn con đường rộng rãi cao xa kia, là đường lên tiên-cảnh, nói vừa dức lời, kế nghe tiếng kêu văn vẳn, lạc ngựa vang rân, bổng thấy một vị kim-giáp-thiên-thần, râu dài mặt trắng, trang mạo khôi ngô, mão bạc giáp vàng, oai nghi tề chỉnh, tay cầm một cây cờ đỏ, trên lá cờ có đề chữ « chiêu hồn » vừa đi vừa kêu rằng :

Bắc-đầu-hành-tinh, ngươi hãy theo ta đặng phục hườn chánh vị.

Kế thấy xa xa một người cởi ngựa, yên cương đẹp đẻ, kiều khẩu rõ ràng, thỉnh thoảng theo sau, một bước một ngừng, rồi quảy đầu ngó lại.

Cô Ngọc-Sương thấy liền ngó châm chỉ người ấy một hồi, rồi la lên rằng: uả nầy! Tình quân tôi đi đâu kia vậy? nói rồi đứng nhìn, thấy người ấy cũng gò cương ngừng ngựa, đứng lại ngó cô chậm châm, nhưng cách nhau xa, nên không nói lời gì đặng hết.

Cô thấy quả người ấy là Châu-văn-Tiếp thì kêu lớn lên rằng: uả Tình-quân đi đâu đó vậy ?

Người ấy nghe kêu vằn vẳn, bèn ngó lại mà sắc mặt tỏ ra một vẽ thảm sầu, rồi đứng ngơ ngẩn vì đâu, không nói chi hết.

Kế nghe vị Kim-giáp thiên-thần trở lại, một tay vuốt râu, một tay phất cờ và kêu lớn lên rằng :

— Bắc-đầu-hành-tinh, hãy mau mau theo ta mà phục hườn chánh vị.

Người cởi ngựa đi sau đương đứng ngơ ngẩn ngó cô Ngọc-Sương, kế nghe vị thần ấy kêu, thì lật đật giục ngựa chạy tới.

Cô Ngọc-Sương thấy vậy lại kêu lên rằng:

— Tinh-quân ôi! hãy gò cương ngừng ngựa, cho em gạn hỏi một lời đả nào. Tinh quân ôi! Tinh quân đi đâu, xin nói cho em biết chút?

Người ấy nghe cô Ngọc-Sương kêu, tức thì ngừng lại, rồi ngó cô châm chỉ, và lấy khăn chậm mắt, coi bộ rất bịnh rịnh thảm buồn.

Kế kim-giáp-thần trở lại phất cờ và kêu lớn mà thúc rằng:

— Ta vâng mạng Ngọc-Hoàng thượng đế, xin triệu Bắc-đầu-hành-tinh, vậy khá mau mau giục ngựa đăng trình, ngỏ đặng về chầu Ngọc-khuyết. Bớ - Bắc-đầu-hành-tinh, hãy theo ta cho mau, chẳng nên bận bịu trần hườn, mà diêng trì thiên mạng.

Châu-văn-Tiếp nghe kêu vội vàng quày ngựa chạy tới, nhưng chạy được ít bước liền gò cương ngó lại mà coi bộ rất ngơ ngẩn bồi hồi.

Cô Ngọc-Sương liền chạy theo kêu rằng.

— Tình quân ôi! xin tình quân đứng lại, cho em gạn hỏi một lời, chẳng biết Tình quân đi đâu, mà xem rất vội vàng sảng sốt lắm vậy?

Châu-văn-Tiếp thấy cô Ngọc - Sương kêu, thì lật đật ngừng lại, rồi lấy khăn gạt lụy mà rằng:

— Tình nương em ôi! mạng trời đã định, nên khiến cho ta phải từ biệt cõi trần, em ôi! khối ân tình ta còn gánh nặng ngàn cân, nhưng mà đường biệt hận, trời đã phân lia hai ngả, em ôi. chi xiết nỗi, keo rời hồ rả; biết bao tình, kiến bể bình tan. Vậy xin Tình-nương em ở lại trần hoàng, đặng đường tiên lộ ta trở về thượng-giới.

Cô Ngọc-Sương nghe Châu-văn-Tiếp nói bấy nhiêu lời, thì tơ sầu vấn vích, xiết bao ruột thắt gan xàu, giọt thảm dầm dề, thương nỗi lang buồn huệ héo, rồi cô kêu lớn mà rằng: Tình quân ôi! Vậy thì xin Tình-quân chậm bước, đặng đợi thiếp theo cùng, dầu sanh tử thế nào cũng xin cho em đi với, nói rồi bương bả chạy theo, bổng thấy kim-giáp-thần trở lại phất cờ và kêu lớn lên rằng: Cả tiếng kêu Bắc-đẩu-hành-tinh, mau giục ngựa lên chầu Thượng-đế.

Lúc bấy giờ Châu-văn-Tiếp bị Kim-giáp-thiên-thần phất cờ rước đi, cô Ngọc-sương thấy vậy liền khóc lóc chạy theo, chẳng dè bị Hồ-điệp Tiên-nử sè hai cánh ra như hai cây quạt lớn, và quạt vào mặt cô một cái rất mạnh, làm cho cô lạnh cả và mình, rồi tĩnh hồn thức dậy, té ra mơ màng một giấc chiêm bao. Cô bèn mở mắt ngó ra, thì còn thấy một con bướm bướm rất to, liệng qua dáp lại nơi trước mặt cô một hồi, rồi bay lại đậu trước bàn phật Quan-âm, mình ứng ngủ sắc, cô lấy làm lạ, bèn định tĩnh tâm hồn, hai mắt chăm chăm ngó vào con bướm, thấy bướm ấy có hai mặt trăng trên cánh rất đẹp, cũng như con bướm cô thấy trong giấc chiêm bao, chẳng khác chút nào hết cả, kế đó bướm ấy cất bổng lên cao, và phăng phăng bay mất.

Cô Ngọc-sương tĩnh hồn nhớ lại trong giấc chiêm bao thấy một điềm rất nên quái dị, chẳng biết lành dữ thế nào, mà sao khiến cho cô trong lòng phập phồng kinh-khủng. Cô liền đứng dậy chạy tuốt ra sau, đặng thăm coi Châu-văn-Tiếp căn bệnh thế nào. Nhưng cô mới vừa ra tới hậu đường, thì tên khán-hộ hơ hải chạy ra, kêu cô và nói cách sảng sốt rằng :

— Bẩm Cô-nương, quan Đô-đốc đã tắc hơi rồi.

Cô Ngọc-sương nghe nói bấy nhiêu, thì khóc lớn lên rằng :

— Trời ôi! chồng ta đã tắc hơi rồi sao, cô liền chạy vào bên giường, thì thấy Châu-văn-Tiếp hai mắt còn mở trơ trơ, mà mình mẩy tay chơn đều lạnh hết cả. Cô bèn gục đầu bên giường mà khóc một cách rất ai bi thê thảm.

Lúc này Nguyễn-vương đương ở tại Long-Hồ, đề binh đốc chiến, bổng có tin báo Châu-văn-Tiếp đã từ trần, Nguyễn-vương nghe tin ấy như một tiếng sắm nổ chạt vào tai, như một mũi dao ai đâm vào ruột, làm cho ngài cả và tâm thần đều rúng động ngài liền dậm chơn xuống đất, ngước mặt lên trời mà than rằng :

— Trời ôi ! Trời không muốn cho ta khôi phục san hà, nên khiến ta mất hết một viên dũng tướng là Châu-văn-Tiếp, cũng như sặp một hòn núi thái-son, như gảy một cánh tay bên hữu, ngài than thở một hồi, rồi hạ lệnh đình chiến ba ngày, đặng lo tống táng Châu-văn-Tiếp, và truyền cho các đạo binh đều kéo cờ tan, tướng sĩ tam quân đều đề tan chế cả thảy.

Châu-văn-Tiếp tử trận tại Mân-thích trong lúc mùa đông tháng mười năm Giáp thìn, tây lịch 1784, hưởng thọ đặng 35 tuổi.

Khi mai táng Châu-văn-Tiếp rồi, Nguyễn-vương bèn phong cho Lê-văn-Quân làm chức Bình-tây Đô-đốc, và sai đem một đạo binh qua đánh các đồn ở miệt Bến-tre; lại sai Nguyễn-kim-Phẩm đem một đạo binh đi phía tả dực,Tôn-thất-Hội đem một đạo binh đi phía hữu dực, và hai đạo binh Xiêm để đi tiền phong, còn ngài cùng các tướng hộ tùng, thì cầm một đạo binh đi phía hậu tập. Cả năm đạo binh đều rần rần kéo nhau tuốt qua Tiền-giang, tấn tới một lược.

Tướng Tây-sơn là Phò mã Trương-văn-Đa bị Nguyễn-vương đánh một trận thua chạy, bỏ lại binh thuyền khí giới chẳng biết bao nhiêu. Lúc nầy các đạo binh Tây-sơn bị binh của Nguyễn-vương đánh tới rất dữ, lớp chạy tản lạc, lớp ra hàng đầu, nên các miền hậu giang, và Sadéc, Vĩnh-long, Bền-tre, Trà-vinh đều thuộc vào tay Nguyễn-vương hết cả. Chỉ còn Mỹ-tho và Saigon chưa lấy mà thôi.

Lời quảng cáo giới thiệu ở bìa sau của sách Hoàng tử Cảnh như Tây

Tiểu thuyết lịch sử thì 3 phần hư 7 phần thực (hay ngược lại, 7 phần hư 3 phần thực?), vậy trong truyện này phần nào là hư, phần nào là thực?

Hic, cái tình tiết lâm ly bi đát nhất của câu chuyện này tức chuyện tình của tướng quân Châu văn Tiếp với nàng Hồng Ngọc Sương là... hư cấu 100%! 

Mối tình đẫm nước mắt, đầy trắc trở giữa Châu văn Tiếp và nàng Hồng Ngọc Sương (con gái Cử Khôi) từ lúc ông chém Bùi Khắc Phú cứu mỹ nhân cho đến khi ông lâm chung trong vòng tay nàng tại Xiêm đều do tác giả bịa ra cho câu chuyện thêm phần mùi mẫn. Lịch sử không hề ghi nhận có nàng Hồng Ngọc Sương nào, cũng không có Cử Khôi và tướng Tây Sơn Bùi Khắc Phú. Trái lại, phu nhân của Châu văn Tiếp được ghi nhận là bà Cao thị Cầu. Mộ phần của bà hiện ở cạnh bên lăng mộ của ông, như hình ảnh dưới đây.

Mộ của phu nhân Quận công Châu văn Tiếp, bà Cao thị Cầu. Ảnh: NQ Hùng

Theo tư liệu địa phương bà Cao thị Cầu quê quán ở Hắc Lăng, đó cũng là lý do lăng mộ của quận công Châu văn Tiếp được xây dựng tại đây.

Chúa Nguyễn Ánh dành sự quan tâm đặc biệt cho bà Cầu, ông ban cấp vàng bạc và nhiều vật phẩm để bà có thể an dưỡng tuổi già. Sau khi bà qua đời, người dân địa phương chôn cất bà bên cạnh chồng. Tuy nhiên, do bà không có con, việc thờ cúng được giao lại cho em gái của tướng Châu văn Tiếp là bà Châu thị Đậu.

Địa điểm và bối cảnh cái chết của tướng quân Châu văn Tiếp theo tiểu thuyết cũng có phần sai lệch so với ghi nhận trong chính sử. Theo tiểu thuyết thì Châu Văn Tiếp tử thương khi giúp vua Xiêm đánh quân Miến Điện rồi được đưa về dưỡng thương và qua đời tại một ngôi chùa ở Vọng Các (Xiêm La). Theo lịch sử ghi nhận thì Châu Văn Tiếp tử trận tại sông Mang Thít (nay thuộc Vĩnh Long, Việt Nam) vào ngày 13 tháng 10 năm Giáp Thìn (1784) khi đang trực tiếp chỉ huy liên quân thủy chiến chống lại quân Tây Sơn để phục quốc.

Theo tiểu thuyết, ông bị một tướng giặc ẩn núp dưới mũi thuyền đâm lén vào hông và qua đời năm 35 tuổi. Theo lịch sử, khi nhảy sang thuyền địch để công phá, ông bị chính phò mã nhà Tây Sơn là Trương Văn Đa đâm tử thương. Ông mất năm 1784, hưởng thọ 46 tuổi (sinh năm 1738), chớ không phải 35 tuổi.

Còn chi tiết cuối cùng như ta đọc trong đoạn trích ở trên là linh hồn ông sau khi mất được tiên thần rước về trời, phục hồi thần vị Bắc-đầu-hành-tinh (sao Bắc Đẩu) thì... khỏi nói, chắc chắn là hổng có thiệt rồi!

Cho đến nay, sau gần 100 năm, bộ sách này vẫn được remake và có người mua

Bộ truyện của Tân Dân Tử được viết cách đây gần 100 năm, là thời điểm sơ khai của tiểu thuyết tại Việt Nam, do đó kỹ thuật viết tiểu thuyết còn nhiều hạn chế. Về quan điểm lịch sử, ông là một nhà văn Nam Bộ sống dưới thời Pháp thuộc (vùng đất vốn gắn liền với công lao khai phá của nhà Nguyễn), nên tác phẩm nhìn nhận Nguyễn Ánh là chính thống, ca ngợi tuyệt đối; ngược lại, coi phong trào Tây Sơn là ngụy triều, là giặc. Nguyễn Ánh và các tướng sĩ được lý tưởng hóa thành những anh hùng hoàn hảo, còn phe đối lập bị hề hóa hoặc bôi đen.

Dù vậy, bộ ba tiểu thuyết này được xây dựng công phu, cốt truyện kịch tính, hấp dẫn. Lời văn kết hợp giữa phong cách biền ngẫu truyền thống với chất ngôn ngữ Nam Bộ tự nhiên, mộc mạc, dễ đi vào lòng người. Câu chuyện tình của tướng quân Châu văn Tiếp dù... bịa nhưng lâm ly bi đát, thu hút được đông đảo độc giả bình dân.

Một bản in lại sách Gia Long tẩu quốc

Chính vì vậy bộ tiểu thuyết này đã được tái bản rất nhiều lần, và ngày nay ta đọc lại dù thấy văn phong khá cổ xưa nhưng cũng thú vị quá chớ, phải không?

Phạm Hoài Nhân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét